Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
1. Định nghĩa:
Theo Tổ chức y tế thế giới, viêm phổi là viêm nhu mô phổi. Viêm phổi trẻ em là bệnh rất thường gặp, là bệnh chữa được nếu đến sớm và chẩn đoán điều trị đúng. Trái lại, dễ dẫn tới tử vong nếu trẻ đến muộn hoặc không được điều trị đúng mức.
Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy viêm phổi là bệnh lây nhiễm gây tử vong số 1 đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi. Mỗi năm trên thế giới có hơn 1 triệu trẻ em dưới 2 tuổi chết vì viêm phổi.
Tại VN, ước tính hằng năm có khoảng 2,9 triệu lượt mắc bệnh viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi. Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, trung bình mỗi ngày có 30-40 trẻ bị bệnh đường hô hấp phải nằm viện điều trị nội trú, trong đó có viêm phổi.
Tỷ lệ trẻ tử vong do viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi chiếm 1/3 trong tổng số các nguyên nhân tử vong. Theo Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, ở Việt Nam có khoảng 7,9 triệu trẻ em dưới 5 tuổi và với tỷ lệ tử vong chung là 23 phần nghìn thì mỗi năm có khoảng 38.000 trẻ tử vong, trong đó viêm phổi chiếm 12%, nghĩa là mỗi năm có khoảng trên 4.500 trẻ dưới 5 tuổi tử vong do viêm phổi.
2. Điều kiện thuận lợi gây bệnh:
– Tuổi: càng nhỏ càng dễ bệnh và bệnh càng nặng.
– Thời tiết: thời tiết lạnh, giao mùa.
– Cơ địa: đẻ non, đẻ yếu, suy dinh dưỡng.
– Dị tật (sứt môi hở hàm, tim bẩm sinh, hội chứng Down…).
– Điều kiện vệ sinh, điều kiện môi trường xấu (khói, khói thuốc lá, bụi, khí độc, nhà ở tối tăm chật hẹp…).
– Điều kiện lây nhiễm (nhà trẻ, trường học, gia đình…).
3. Nguyên nhân:
– Do virus: là nguyên nhân chính gây viêm phổi trẻ em (80 – 85%), lây bằng các hạt chất tiết từ đường hô hấp của người bệnh hoặc lây do tiếp xúc trực tiếp (hôn hít). Đứng hàng đầu là virus đường hô hấp như virus hô hấp hợp bào (RSV), á cúm, cúm…với đặc điểm lây lan nhanh theo đường hô hấp có thể thành dịch, xảy ra theo mùa.
– Do vi trùng: Sơ sinh: Streptococci nhóm B, Chlamydia, trực khuẩn đường ruột
+ Từ 1 tới 6 tuổi: Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae nhómB, Staphylococcus, Streptococcus nhóm A, ho gà, lao.
+ Trên 6 tuổi: Mycoplasma pneumoniae, Streptococcus pneumoniae, Clanmydia pneumoniae.
– Trẻ nằm viện kéo dài hoặc suy giảm miễn dịch: Klebsiella, Pseudomonas,E. Coli Candida albicans, Pneumocystic carinii
– Nhìn chung, vi khuẩn gây viêm phổi trẻ dưới 6 tuổi theo thứ tự thường gặp là: S. pneumoniae, Hemophilus influenzae, S. aureus.
– Do hít sặc: thức ăn, chất ói, hóa chất, dầu hôi …
4. Triệu chứng:
4.1 Giai đoạn khởi phát:
– Triệu chứng nhiễm trùng hô hấp: sổ mũi, nghẹt mũi, ho khan, sốt, đau mình, bỏ chơi, giảm bú, mệt mỏi, quấy khóc.
– Trẻ có thể rối loạn tiêu hoá như: ọc sữa, ói, chướng bụng tiêu chảy.
– Tại phổi có thể chưa phát hiện triệu chứng.
4.2 Giai đoạn toàn phát:
– Ho: Ban đầu ho khan, sau có đờm, trẻ nhỏ hoặc trẻ yếu có khi không ho hoặc ho ít.
– Dấu hiệu thở nhanh: dưới 2 tháng thở ≥ 60 lần/phút, từ 2 tháng đến 1 tuổi ≥ 50 lần/phút, từ 1 tuổi đến 5 tuổi ≥ 40 lần/phút. Đây là phản ứng bù trừ, cơ thể tăng nhịp thở và không thể tăng mãi ; Nếu không điều trị kip thời và đúng mức , bệnh không cải thiện, trẻ sẽ suy hô hấp, kiệt sức, nhịp thở chậm lại và ngưng thở.
– Dấu hiệu khác: tím tái da niêm, rút lõm lồng ngực, co kéo cơ liên sườn, rút lõm hõm trên ức, phập phồng cánh mũi, thở rên…
– Gõ đục khi có tràn dịch hoặc đông đặc.
– Nghe: thô, tiếng vang thanh khí quản, phế âm giảm, ran ẩm nhỏ hạt, ran nổ của viêm phế nang, ran rít, ran ngáy…
4.3 Triệu chứng khác đi kèm:
– Viêm cơ, nhọt da, viêm xương, viêm tai giữa, viêm Amidan, viêm thanh quản, viêm màng ngoài tim
– Viêm phổi trẻ em, nếu được chẩn đoán và điều trị sớm thì tiến triển thường tốt và khỏi bệnh sau 7 – 10 ngày. Nếu trẻ đến muộn hoặc điều trị không đúng mức, nhất là trẻ dưới 12 tháng, thì tử vong rất cao.
5. Điều trị: Nguyên tắc điều trị viêm phổi ở trẻ là chống nhiễm khuẩn, chống suy hô hấp, chăm sóc tốt
Khi bị viêm phổi, trẻ có thể được điều trị tại nhà. Bốn công việc cần phải làm là:
+ Cho trẻ uống kháng sinh thích hợp.
+ Điều trị các triệu chứng kèm theo: sốt, khò khè.
+ Biết cách chăm sóc trẻ tại nhà.
+ Biết được khi nào cần đưa trẻ đến khám lại bao gồm tái khám theo hẹn và khám lại ngay lập tức khi trẻ trở nặng.
5.1 Điều quan trọng nhất để trẻ có thể khỏi bệnh là trẻ cần phải được cho uống kháng sinh thích hợp đúng cách, đủ liều và đủ thời gian. Khi được thầy thuốc chỉ định, các bậc cha mẹ cần nhận biết đúng dạng thuốc cần cho trẻ uống, liều lượng mỗi lần uống, số lần uống trong ngày và số ngày cần cho trẻ uống thuốc. Đối với các loại thuốc viên, cần tán nhỏ viên thuốc trước khi cho trẻ uống (có thể cho vào một ít nước và chờ vài phút, nước sẽ làm viên thuốc bở ra và dễ nghiền nhỏ hơn). Có thể pha thêm một ít đường, hoặc pha với một ít sữa, nước cháo để bé có thể uống dễ dàng hơn. Nếu trẻ ói trong vòng 30 phút sau khi uống thuốc, cần cho bé uống lại một liều khác.
Tuy nhiên cũng cần tránh lạm dụng kháng sinh khi trẻ chỉ bị cảm ho thông thường. Thật thế ngoài việc tốn kém, tác dụng phụ trước mắt hay lờn thuốc về lâu về dài, người ta cũng đã chứng minh được rằng việc lạm dụng kháng sinh như thế cũng không ngừa được biến chứng viêm phổi ở trẻ chỉ bị ho cảm thông thường.
5.2. Tùy trường hợp mà thầy thuốc sẽ cho trẻ các loại thuốc cần thiết khác như thuốc hạ sốt (Paracetamol), thuốc điều trị khò khè (Salbutamol, Trebutaline). Cần cho trẻ uống đúng theo hướng dẫn dù rằng các loại thuốc này cũng khá an toàn cho trẻ em.
5.3. Cách chăm sóc trẻ tại nhà
– Cần phải tăng cường cho trẻ ăn, bú, tránh các tập quán kiêng ăn. Cần cho trẻ ăn đủ chất, bú đều đặn khi đang bệnh. Khi trẻ vừa khỏi bệnh cũng cần bồi dưỡng thêm cho trẻ mau lại sức. Đối với trẻ nhỏ, khi mũi bị nghẹt, tắc, trẻ sẽ khó bú, khó ăn hơn. Vì vậy cần thông thoáng mũi (nhỏ mũi) , để trẻ có thể bú, ăn dễ dàng hơn.
– Cần cho trẻ uống nhiều nước hoặc tăng cường cho trẻ bú. Đây là điều rất quan trọng vì trẻ bị viêm phổi cần được cung cấp nhiều nước để làm loãng đàm, dịu họng, giảm ho.
– Riêng đối với vấn đề ho, chúng ta cần lưu ý: khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, ho chính là một phản xạ có lợi để tống đàm dãi ra ngoài, giúp đường thở được thông thoáng cho trẻ có thể hít thở dễ dàng. Vì vậy không nên lạm dụng các loại thuốc ho để kìm hãm phản xạ có lợi này của trẻ nhất là khi hiện nay có nhiều loại thuốc ho có thể gây ngộ độc, tác dụng phụ quan trọng ở trẻ em nếu dùng không đúng cách. Trên thực tế nếu dùng đúng loại kháng sinh thích hợp để trị viêm phổi cũng sẽ giúp trẻ giảm ho nhanh chóng. Chỉ khi nào trẻ ho nhiều dẫn đến những hậu quả xấu cho trẻ như nôn ói, mất ngủ, đau tức ngực, đau rát họng… chúng ta có thể cho trẻ dùng các thuốc ho an toàn.
Tổ chức y tế thế giới cũng như Bộ Y tế khuyến cáo nên dùng các loại dược thảo, thuốc nam an toàn đã từng được lưu truyền rất rộng rãi trong dân gian: Quất chưng đường, rau tần dầy lá, mật ong, gừng… Các loại thuốc ho như sirop Astex, sirop Pectol E là các thuốc có thành phần chính là thảo dược an toàn (Tần dầy lá,…) cũng có thể được sử dụng cho trẻ em.
5.4 Vấn đề tái khám
– Tái khám theo hẹn: trẻ cần được bác sĩ khám lại sau 2 ngày để đánh giá xem thuốc kháng sinh này có hiệu quả tốt hay không. Ngay trong trường hợp tốt nhất (trẻ thở trở lại bình thường, hết sốt, ăn – bú khá hơn) trẻ cũng cần phải tiếp tục cho uống kháng sinh đủ thời gian là 5 ngày.
– Nếu sau 2 ngày tái khám, nếu trẻ còn thở nhanh, thầy thuốc sẽ cho bé dùng một loại kháng sinh cần thiết khác hoặc cho cháu nhập viện điều trị.
– Khám lại ngay: cũng cần lưu ý theo dõi và đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế, bệnh viện nếu thấy trẻ có một trong các dấu hiệu sau: thở khó khăn (thở nhanh hơn – mạnh hơn, thở co lõm lồng ngực), trẻ không thể uống được nước, trẻ trở nên mệt hơn. Đây là những dấu hiệu cho biết bệnh của trẻ đã trở nặng, cần nhập viện ngay.
6. Phòng bệnh:
– Chăm sóc sức khoẻ sản phụ, hạn chế các trường hợp sinh non, thiếu cân.
– Bảo đảm vệ sinh vô trùng khi sinh và chăm sóc sơ sinh.
– Trẻ được bú mẹ sớm, ăn dặm, tránh suy dinh dưỡng.
– Tiêm chủng đầy đủ, trẻ được sống ở môi trường trong lành, không bụi khói độc hại, nhang trù muỗi, thuốc lá, tránh khí độc, ô nhiễm,nơi ở tối tăm chật chội ẩm thấp…
– Tránh tối đa nguồn lây.
– Chủng ngừa (cúm, á cúm, thuỷ đậu, Hib, phế cầu…).
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |