Khoang màng ngoài tim chứa đựng từ 15 đến 30 ml dịch giúp cho hai lá thành và lá tạng không cọ sát vào nhau. Khả năng chứa tối đa của khoang màng ngoài tim là từ 80 đến 200ml dịch, với số lượng dịch này trên lâm sàng hầu như không nhận thấy các biến đổi về huyết động. Các bệnh nhân viêm màng ngoài tim cấp áp lực tĩnh mạch trung tâm tăng làm giảm sự trở về của hệ tĩnh mạch do đó khả năng chứa dịch của khoang màng tim sẽ tăng lên. Với sự tăng dần của lượng dịch nhiều trường hợp khoang màng tim có thể chứa đến 2 lít dịch mà vẫn chưa có biến đổi huyết động trên lâm sàng. Chèn ép huyết động hay gặp trong các trường hợp dịch quá nhiều hay tăng quá nhanh hoặc trong các trường hợp dịch có nhiều sợi fibrin (Fibrin là một thành phần được tạo ra trong quá trình đông máu, giúp cầm máu vết thương), tràn dịch màng tim do ung thư.
Author Archives: admin
Hở động mạch chủ là tình trạng máu dồn ngược từ động mạch chủ trở về tâm thất trái trong thì tâm trương vì van động mạch chủ đóng không kín.
Cơn đau thắt ngực là tình trạng khó chịu ở ngực xảy ra khi sự cung cấp máu có chứa oxy đến một vùng nào đó của cơ tim giảm. Trong hầu hết các trường hợp, sự thiếu cung cấp máu là do hẹp các động mạch vành do xơ hóa động mạch.
Nghẽn mạch phổi là hiện tượng tắc đột ngột một động mạch phổi hoặc một nhánh của động mạch phổi do một cục đông máu từ tĩnh mạch đưa lên. Bệnh thường gặp ở người có tuổi. Thể bệnh nặng là một cấp cứu nội khoa, có khi cả ngoại khoa.
Phình động mạch chủ là yếu trương lực khu vực phồng của mạch, động mạch chủ là mạch máu lớn cung cấp máu cho cơ thể. Các động mạch chủ, chạy từ tim thông qua trung tâm của ngực và bụng. Bởi vì động mạch chủ cung cấp máu chính cho cơ thể, một động mạch chủ vỡ phình động mạch có thể gây chảy máu đe dọa tính mạng. Mặc dù có thể không bao giờ có triệu chứng.
Đột tử là cái chết tự nhiên do nguyên nhân tim mạch được báo trước bằng mất tri giác trong vòng 1 giờ.Có thể biết hoặc không biết bệnh tim trước đó và không thể dự đoán trước cách thức và thời gian tử vong.
Tăng gánh thất là tình trạng ứ máu nhiều ở tâm thất làm cho nó phải tăng gánh nặng và đẩy máu đi và như vậy sẽ làm cho thành của nó cũng dày và giãn ra. Và cũng để nhấn mạnh hậu quả này người ta dùng thuật ngữ Ventricular hypertrophy với nghĩa tương đương (Khi dịch ra tiếng Việt, có tài liệu dịch là Phì đại thất, có tài liệu dịch là Dày thất.). Tăng gánh thất là hậu quả của 1 số bệnh tim mạch.
Đây là van tim thông giữa tâm nhĩ phải và tâm thất phải. Khi máu di chuyển từ tâm nhĩ phải xuống tâm thất phải thì van ba lá sẽ mở ra. Khi tâm thất phải bóp để đưa máu lên phổi thì van ba lá sẽ đóng lại, ngăn không cho máu từ tâm thất phải đi ngược lên tâm nhĩ phải. Nếu van ba lá không đóng kín được khi tâm thất phải bóp để đưa máu lên phổi thì sẽ có một phần máu từ tâm thất phải đi ngược lên tâm nhĩ phải, người ta gọi là bệnh hở van ba lá.
Phẫu thuật thay thế van tim đang ngày càng trở nên phổ biến với người bệnh tim. Có nhiều loại vật liệu được sử dụng để thay thế van, trong đó phổ biến nhất là van tim cơ học và van tim sinh học. Ngoài ra còn có các mảnh ghép đồng loài được lấy từ mô của người chết. Các bác sĩ phải cân nhắc từng ưu điểm, nhược điểm ở mỗi trường hợp cụ thể để giải thích với bệnh nhân và gia đình chọn lựa loại van thay thế phù hợp nhất.
10 bệnh thường gặp khi đau ngực
