Điếc đột ngột là hiện tượng mất sức nghe xảy ra một cách đột ngột và diễn tiến trong vòng 12 giờ.
Author Archives: admin
Nếu trẻ bị viêm họng liên cầu, chúng sẽ đau họng và khó nuốt. Nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Trong thực tế, có thể bị viêm họng liên cầu mà không đau họng. Tuy nhiên, nói chung các dấu hiệu và triệu chứng viêm họng liên cầu gồm:
Bệnh mũi đỏ được coi như một thể phì đại (quá sản) của bệnh đỏ mặt. Là một tặng sản mặt của tổ chức liên kết và tuyến bã mũi.
Xương chũm là một khối xương nằm lồi gần ngay sau vành tai. Cấu tạo của xương chũm tuy cứng nhưng bên trong lại xốp, có nhiều hốc nhỏ. Xương chũm tiếp giáp với nhiều bộ phận quan trọng như màng não, não, các mạch máu, thần kinh quan trọng…
1. Nguyên nhân:
Nguyên nhân gây bệnh thường là viêm tai cấp tính hoặc viêm xương chũm ngoài cũng có thể gây ra viêm tấy hạch ở cổ.
2. Bệnh sinh:
Quá trình viêm nhiễm đi từ tai xuống họng và cổ bằng một trong ba lối sau đây:
– Đường bạch huyết: Thường thấy ở trẻ em bị viêm ống tai ngoài. Bệnh nhân bị viêm tấy hạch ở cổ hoặc hạch tuyến mang ti hoặc hạch sau tai.
– Đường tĩnh mạch: Thường thấy trong viêm tai xương chũm có kèm theo viêm nghẽn ở vịnh cảnh hoặc ở tĩnh mạch cảnh. Hạch và tổ chức liên kết ở máng cảnh bị viêm và có khi biến thành viêm tấy.
– Đường xương (là lối phổ biến): Quá trình viêm lan từ sào bào và các tế bào chũm xuống mặt dưới xương chũm (tam giác cảnh nhĩ thân của Mouret, tam giác mỏm của Bezold và từ mặt này xuống tổ chức liên kết ở cổ gay ra các thể lâm sàng M ure hoặc Bezon mà chúng tôi đã trình bày ở phần viêm xương chũm. Quá trình viêm cũng có thể xuất phát từ apxe ngoài màng cứng, tiến về phía nền sọ. Mủ sẽ đổ vào tổ chức liên kết cổ qua lỗ rách sau hoặc qua lỗ rò xương chũm.
3. Triệu chứng:
Apxe bên cạnh họng:
Mủ đi từ xương đá hoặc mỏm xương chũm hoặc tam giác cánh nhị thân M ure đổ vào khoảng sau trâm (khoảng dưới tuyến mang tai sau của Sêbilô).
Trong giai đoạn đầu chúng ta chỉ thấy có chảy mủ tai và triệu chứng toàn thân như sốt dao động, bộ mặt nhiễm trùng, toàn thân suy sụp. Những triệu chứng đó làm cho chúng ta nghĩ đến một ổ viêm mủ ở sâu
Sang giai đoạn toàn phát có triệu chứng nuốt đau, nhai đau, quay cổ khó, tiếng nói thay đổi âm sắc (nới như người ngậm kẹo trong miệng). Sờ vào cổ bệnh nhân kêu đau ở máng cảnh, ít khi có hiện tượng đóng bánh. Khám họng chúng ta thấy thành bên họng nổi phổng về phía trong, amydan và trụ sau cũng bị đẩy dồn về phía trong. Một đôi khi khối sưng lan xuống đến hạ họng và gây ra khó thở. Ngón tay sờ vào khối sưng có cảm giác căng. Tiên lượng của apxe này tốt: sau khi giải quyết ổ viêm và chích rạch họng, apxe se khỏi, không để lại di chứng.
Apxe thành họng:
Mủ xuất phát từ ổ viêm ở mỏm xương đá, đổ vào thành họng, giữa niêm mạc và lớp cân chung quanh họng. Túi mủ thường khu trú vào những điểm sau đây: loa vòiơxtasi, màn hầu, nóc vòm.
Apxe lao vòiơxtasi: Bệnh nhân kêu nhức tai, ù tai, đau họng. Thành họng ở sau màn hầu sưng phòng.
Apxe màn hầu: Nửa bên màng hầu bị sưng phồng và xệ xuống, lưỡi gà bi Phù nề, trụ trước bị nhâm nhiễm. Bệnh nhân nuốt đau, nói giọng mũi hở, uống nước hay sặc lên mũi.
Apxe nóc vòm: túi mủ khu trú ở sau cửa mũi sau làm cho bệnh nhân tắc mũi, nới giọng mũi kín. Soi mũi sau thấy một khối u tròn, nhẫn, đỏ che gần hết vòm mũi họng. Ngón tay sở có cảm giác căng mọng.
Apxe ở vùng cổ:
Viêm nghẽn xoang tĩnh mạch bên hoặc vịnh cảnh thường hay gây ra viêm tấy máng cảnh. Riêng đối với túi mủ chung quanh xoang tĩnh mạch bên, nó có thể thoát qua lỗ rách sau và chảy xuống cổ gây ra apxe cổ. Nhưng bên cạnh những nguvên nhân này phải nói rằng, đại đa số các túi mủ ở cổ đều do viêm xương ở mặt dướí của xương chũm mà ra.
Trong thể Bezon giả hiệu, mủ chỉ khu trú ở mỏm chũm gây ra hiện tượng đóng bánh và viêm cơ ức đòn chũm: Bệnh nhân thường bị vẹo cổ hoặc quay cổ rất khó khăn.
Trong thể viêm tấy máng cảnh, túi mủ thường xuất hiện ở bờ trước cơ ức đòn chũm. Trong thể viêm xương chũm sau dưới, mủ thường đổ về phía dưới chẩm và vùng gáy tạo thành một túi mủ lùng nhùng dưới da đầu.
4. Điều trị:
Đối với viêm hạch chúng ta có thể điều trị bằng kháng sinh hoặc văcxin (propidon) và có khi phải chích apxe.
Đối với túi mủ ổ viêm xương hoặc viêm tĩnh mạch chúng ta phải giải quyết Ổ viêm (phẫu thuật nạo xương chũm, mở sào bào thượng nhĩ, khoét rỗng đá chũm…) và rạch da ở cổ để dẫn lưu mủ. Trong trường hợp apxe thành họng chúng ta phải chích rạch trong họng để tháo mủ.
Viêm tai giữa ứ dịch (VTGƯD) là sự ứ dịch của tai giữa phía sau một màng tai không thủng, không có các triệu chứng viêm cấp. Dịch tai giữa có thể là thanh dịch, có thể là dịch nhầy, có thể là keo
Sỏi Amiđan, trong thuật ngữ y học còn gọi dưới nhiều tên khác nữa như Tonsillolith hoặc tonsillar calculus…. Sỏi Amiđan chính là chất bã đậu được can xi hóa bởi sự thâm nhập của một số muối vô cơ, nằm trong các hốc Amiđan khẩu cái. Những viên sỏi này có chứa một lượng lớn sulfamid. Khi bị nghiền ép, chúng có thể tạo ra mùi trứng thối đặc trưng làm cho hơi thở có mùi hôi.
Hạt dây thanh ( còn gọi là hạt xơ dây thanh ) là tổn thương dạng khối nhỏ,đối xứng vị trí 1/3 giữa dây thanh hai bên, chân khối thường rộng. Vị trí tổn thương nằm 1/3 giữa được cho là hậu quả của những “chấn thương” trong quá trình phát âm. Khi có hạt dây thanh sẽ làm người bệnh phát âm nặng nề, tình trạng giọng nói ngày càng khàn, hay hụt hơi, nói gắng sức, đau ngực khi nói.
Khi dây thanh bị liệt nó còn ảnh hưởng tới khả năng nói và thở bởi vì như chúng ta đã biết dây thanh còn làm nhiều chức năng nữa ngoài việc phát âm như: bảo vệ đường thở, ngăn chặn đồ ăn thức uống và thậm chí cả nước bọt vào trong đường thở.
Thường gặp nhất là nấm Aspergillus. Nấm Aspergillus có hơn 300 chủng loại nhưng chỉ có khoảng 7 loại gây bệnh cho người, đó là: Aspergillus fumigatus (90% gây bệnh cho xoang), flavus, glaucus, versicolor, nidulans, niger… Bào tử nấm được tìm thấy trong đất, trong không khí nhiều bụi bặm và trong các chất hữu cơ, thực vật thối rữa… Khi ta hít phải các bào tử này, chúng sẽ bám vào những hốc mũi xoang chờ cơ hội gây bệnh.
